T2, 11 / 2017 12:10 sáng | yennhi

Đề bài : Cảm nhận của em về bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật

Bài làm :

Những năm tháng chống Mĩ gian khổ và oanh liệt đã qua đi từ rất lâu rồi, nhưng không khí hào hùng và âm vang của nó thì còn mãi. Phạm Tiến Duật là một nhà thơ, nhưng chính ông cũng là một người chiến sĩ từng vào sinh ra tử trên các chiến trường. “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của ông, có lẽ vì thế mà đã mang được trọn vẹn chất lính tráng hồn nhiên, phóng khoáng của những người lính lái xe tới người đọc, để chúng ta, những thế hệ đi sau thêm yêu mến và tự hào về những người chiến sĩ.

Bài thơ có một cái tên rất dài: “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” và cũng rất đặc biệt khi nhắc tới những chiếc xe không kính. Xe không kính là sao nhỉ? Phạm Tiến Duật đã hòa mình làm một người lính lái xe trên những chiếc xe đặc biệt ấy để cho ta câu trả lời:

Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật bom rung, kính vỡ đi rồi

Hóa ra nguồn gốc của những chiếc xe ấy là sự tàn phá của chiến tranh. Bom đạn dữ dội đã khiến cho những chiếc xe từ có kính thành không kính: không có kính không phải vì xe không có kính. Câu thơ sử dụng rất nhiều từ không nhưng lại là một câu khẳng định rất mạnh mẽ, rất bình thản như một cái gì đó quá bình thường vậy!
Đúng thế, có thể với chúng ta hôm nay, một chiếc xe oto mà không có kính thì sẽ nguy hiểm thế nào? Nhưng trong những năm tháng khốc liệt ấy, đó là chuyện bình thường lắm với những người lái xe. Bom giật bom rung là “nhịp đập” của chiến tranh, không gian khổ, hy sinh thì còn đâu là chiến tranh nữa? Và họ thấy nó là một phần của chiến tranh, họ sẵn sàng đương đầu và đón nhận nó bằng thái độ lạc quan, phớt đời đến như thế này:

Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất nhìn trời nhìn thẳng
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa như ùa vào buồng lái

“Ung dung buồng lái ta ngồi” – Câu thơ đặt chúng ta vào cuộc hành trình cùng những người chiến sĩ sau vô lăng. Mặc cho kính vỡ, họ vẫn ngồi “ung dung”, với đôi mắt vui tươi, cương nghị “nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”. Tầm nhìn như mở rộng ra đến vô biên : cả đất trời ùa vào buồng lái, và người lái xe như đang bay, chứ không phải đang ngồi trong buồng lái xe đối mặt với hiểm nguy nơi chiến trường! Đọc đến đây, tôi thấy yêu sao cái nhìn của người lính lái xe, đôi mắt đắng xè đi vì gió thổi mạnh ấy không chịu lùi bước trước bất cứ điều gì. Bất kể ngày, hay đêm, những con đường vẫn lùi lại phía sau như “chạy thẳng vào tim” họ. Trên con đường đấy, họ bỏ qua tất cả, để cảm nhận những điều bất ngờ đầy thơ mộng như những vì sao hay cánh chim bay sà vào hòa chung khí thế!

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa như ùa vào buồng lái

Hàng loạt các điệp từ như :thấy, như lặp lại như những vòng quay liên tiếp của chiếc bánh xe trên tiền tuyến. Xe vẫn chạy dù không có kính, mắt họ vẫn nhìn thẳng phía trước dù có gió xoa đắng ngắt, và trái tim họ vẫn rộng mở đón vào buồng lái cả đất trời. Khổ thơ đầu tiên vì thế đã mở ra không gian rộng lớn và không khí tươi vui, lạc quan của những chiếc xe không kính trong kháng chiến chống Mỹ.

Không có kính ừ thì có bụi
Không có kính ừ thì ướt áo

Trong hai khổ thơ tiếp theo, Phạm Tiến Duật đã mượn chính cách nói của những người lính lái xe để kể về những gian khổ mà các anh phải đối mặt trên những chiếc xe không kính: bụi phun tóc trắng như người già, mưa tuôn mưa xối như ngoài trời. Không có kính che chắn, mưa gió, bụi bặm trong những chuyến đi dài tha hồ mà sà vào. Mà cái nắng Trường Sơn nào phải cái nắng bình thường, cái mưa Trường Sơn nào phải mưa bụi, mưa phùn. Ấy là cái nắng bỏng rát, là cơn mưa rào xối xả, trắng trời trắng đất đến bạt ca tay lái. Như có lời bài hát:

Trường Sơn Đông, Trường Sơn tây
Bên nắng gió, bên mưa quay

Điệp khúc “không có kính” lặp lại khẳng định sự thiếu thốn của các anh, nhưng hai tiếng “ừ thì” tiếp theo lại phá vỡ hoàn toàn cái “không” ấy để vút lên thành giọng điệu lính tráng rất vô tư, phớt đời của các anh! Ừ thì thế này, ừ thế thế kia, tất cả chỉ là cái thường nhật của cuộc chiến tranh. Và đối mặt với nó, là nụ cười hồn nhiên, phóng khoáng chẳng hề vướng bận:

Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha

Âm điệu giòn giã của tiếng cười “ha ha” ấy xua đi mọi khó khăn, gian khổ trên đường đi. Các anh tìm ra trong thiếu thốn những niềm vui đủ đầy, những niềm vui mà không ai khác ngoài những người lính lái xe mới có! Cơn mưa tuôn, mưa xối kia, những bụi bặm mù mịt kia là “gia vị” của đời lính. Gió làm khô áo, và cũng thổi bay đi những cái gì ủy mị, để lại nguyên vẹn trong các anh sự trẻ trung, phóng khoáng như những cánh chim tự do trên con đường chiến đấu bảo vệ nền độc lập dân tộc.

Những chiếc xe không kính trên đường ra tiền tuyến gặp biết bao khó khăn, nhưng nó không làm cho những người lính lùi bước, nản lòng. Ngược lại, chính nó lại trở thành chất keo gắn kết những con người xa lạ thành đồng chí, anh em:

Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi

Cửa kính vỡ trở thành nơi những bàn tay dãi dầu nắm chặt lấy nhau. Khó khăn, gian khổ kéo họ xích lại. Trong bom rơi, họ hợp lại với nhau thành một tiểu đội, thành những người có chung chí hướng. Nhưng hơn thế, mỗi km đường đi lại thành km tình nghĩa bởi họ không chỉ là đồng chí, họ còn là anh em ruột thịt:

Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy

KHổ thơ đã ghi lại những giây phút dừng chân đầy tình yêu thương, đầm ấm của những người lính lái xe. Sau những giây phút làm nhiệm vụ sau buồng lái, vượt qua bom đạn kẻ thù, họ dừng chân cùng nhau chia sẻ từng bát cơm, hạt gạo như một gia đình đông an hem. Hình ảnh chiếc bếp HOàng Cầm ấm cúng và những người lính ngồi cạnh nhau nghỉ ngơi khiến lòng ta bình yên lại. Bởi giữa cái khốc liệt của chiến tranh thì khoảnh khắc ấy đẹp quá! Nó khiến người ta có thêm niềm tin và động lực để đi tiếp:

Võng mắc chông chênh đường xe chạy
Lại đi lại đi trời xanh thêm

Trên những chiếc xe không kính là cả bầu trời bao la rộng lớn chở che cho các anh. Chúng ta không thể quên những chiếc võng mắc trên thùng xe, các anh nằm chợp mắt hay kể chuyện vặt, hay đánh đàn và hát rộn vang theo nhịp của những bánh xe lăn tròn. Cuộc chiến đấu gian nan vất vả của những người lính lái xe trong kháng chiến chống Mỹ được Phạm Tiến Duật khắc họa thật chân thực và sống động biết mấy. Chỉ hai từ “chông chênh” mà cho người đọc cảm thấy như chính mình đang cùng ngồi với các anh trên chiếc võng Trường Sơn ấy!

Từ đầu bài thơ đến tận khổ cuối, chúng ta thấy xuất hiện rất nhiều những từ “không” và đến khổ cuối thì điệp khúc “không” đó được nhấn mạnh liên tiếp:

Không có kính rồi xe không có đèn
Không có mui xe, thùng xe có xước

Không chỉ “không có kính”, những chiếc xe trong kháng chiến chống Mỹ còn thiếu thốn đủ thứ: từ đèn tới mui xe, thùng xe cũng xước hết vì những hủy hoại tàn khốc của bom đạn chiến tranh. Nó tố cáo bản chất ác liệt của chiến tranh và đồng thời cũng làm nổi bật trước mắt người đọc một cái “có” ngời sáng toàn bài thơ:

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim

Đọng lại cuối bài thơ là hình ảnh “trái tim” – biểu tượng cho tình yêu Tổ quốc, cho khát vọng chiến đấu bảo vệ độc lập tự do, thống nhất nước nhà của thế hệ trẻ Việt Nam thời chống Mỹ. Tất cả những khó khăn, gian khổ kia chẳng là gì so với lòng nhiệt huyết và khát vọng sục sôi của những người thanh niên yêu nước. Nó chỉ càng mài giũa thêm cho họ sức mạnh để chiến thắng tất cả để hành động, để tiến lên phía trước như những chiếc xe không ngừng chi viện cho miền Nam thân yêu.

Như vậy, toàn bộ bài thơ nhắc nhiều tới cái khó khăn, gian khổ của người lính lái xe, nhưng cái đọng lại lại là niềm tin, là tình yêu miền Nam, tình yêu đất nước. Bài thơ làm sáng ngời chất lính rất hồn nhiên, phóng khoáng của thế hệ trẻ Việt Nam thời chống Mỹ. Phạm Tiến Duật bằng chính tài năng và những trải nghiệm sâu sắc của bản thân đã truyền cho thế hệ trẻ ngày ấy niềm lạc quan, yêu đời để chiến đấu và chiến thắng. Còn đến hôm nay, tuy chiến tranh đã lùi xa, nhưng “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” vẫn khiến chúng ta yêu mến vô cùng. Bởi nhìn vào đó, chúng ta thấy được không khí của cả thời chống Mỹ, nhìn vào đó thấy được vẻ đẹp tâm hồn của thế hệ cha anh, để tự hối thúc bản thân sống có ích hơn, sống lạc quan hơn!

Bài viết cùng chuyên mục